Văn hóa truyền thống

Cuộc đời thực của Đường Tăng và sứ mệnh ít người biết đến

03/02/22, 11:42
Cuộc đời thực của Đường Tăng như thế nào?
Trong lịch sử, thực sự có một vị tăng sư đời Đường đã mạo hiểm cuộc sống và du hành hàng nghìn dặm đường từ Trung Quốc tới Ấn Độ để mang kinh phật về Trung Thổ (ảnh: Internet).

Nhiều người coi “Tây Du Ký” là một tác phẩm văn học hư cấu. Nhưng đó là cuộc đời thực của Đường Tăng từ Trung Thổ đến Ấn Độ để tìm Pháp.

“Tây Du Ký” là một trong những tác phẩm nổi tiếng của văn học cổ điển Trung Hoa. Nội dung của tác phẩm là Đường Tăng dẫn ba đồ đệ tới Tây Thiên thỉnh kinh. Sau khi kinh qua rất nhiều khó khăn và thử thách, cuối cùng ông đã đạt được thành quả viên mãn và quay về Trung thổ.

Nhiều người coi đó chỉ là một tiểu thuyết hư cấu. Tuy nhiên trong lịch sử, có một vị tăng sư đời Đường đã mạo hiểm cuộc sống và du hành hàng nghìn dặm đường từ Trung Quốc tới Ấn Độ để mang kinh phật về Trung Thổ. Hành trình ông đã đi qua cũng là quá trình tu luyện của một người tu hành chân chính. Cuối cùng, ông đã vượt ra khỏi sinh tử theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa của thành quả tu luyện.

Xuất thân trong cuộc đời thực của Đường Tăng

Đường Tăng, tên hiệu là Đường Tam Tạng, tên tục là Trần Danh Vĩ, là người huyện Huyền Nhân, Tỉnh Hà Nam. Các tài liệu ghi chép: ông sinh vào năm 600 sau công nguyên (C.N), dưới thời Tùy Văn Đế. Cũng có tài liệu cho rằng ông sinh năm 602 hoặc 596 sau C.N. Ông viên tịch vào năm 664 sau C.N. Xuất gia lấy pháp danh là Huyền Trang, vì vậy ông cũng được gọi là Pháp Sư Huyền Trang.

Xuất thân của Đường Tăng
Ảnh minh họa (ảnh: internet).

Phụ thân của Trần Vĩ là người đam mê nho học và kinh thuật. Trần Vĩ có bốn anh em trai; người anh trai thứ hai của Trần Vĩ cũng xuất gia từ nhỏ, pháp danh là Trường Tiệp và tu trong chùa Dương Tự ở Lạc Dương. Trần Vĩ là con út trong gia đình; ông thông minh sáng dạ từ nhỏ, có tướng mạo phi phàm. Ông bắt đầu theo phụ thân học tập từ lúc 8 tuổi.

Trần Vĩ nổi tiếng là người chuyên cần học hỏi không ngừng nghỉ. Một lần, phụ thân kể với ông câu chuyện về Khổng Dung đứng dậy khỏi chỗ ngồi để thể hiện sự kính trọng những bậc lão niên.

Căn cơ

Ngay khi Trần Vĩ nghe xong câu chuyện, cũng lập tức đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Phụ thân hỏi tại sao? Ông trả lời, “Khổng Dung đã rời khỏi chỗ ngồi để thể hiện sự kính trọng với bậc lão niên. Nay phụ thân đã giảng giải cho con, làm sao con có thể ngồi được?” Người cha rất ngợi khen con trai của mình. Trần Vĩ khi còn nhỏ đã có tố chất đặc biệt. Ông không chơi với những đứa trẻ nghịch ngợm và không muốn nghe những tà ngôn mị ngữ; hàng ngày cùng nhị huynh Trường Tiệp học kinh điển Phật giáo.

Trong cuộc đời thực của Đường Tăng, ông đã trở thành một Tăng sư ở tuổi 13

Phật giáo rất thịnh hành trong thời nhà Tùy và nhà Đường. Triều đình thiết lập một chế độ thi cử rất nghiêm khắc để lựa chọn những người muốn xuất gia tu luyện tại các chùa. Người phàm muốn xuất gia học Phật Pháp cần phải tham dự các kỳ thi do triều đình tổ chức. Chỉ những người vượt qua các kỳ thi mới được công nhận như là các vị tăng sư và được xưng là “Độ Tăng” (chữ “Độ” trong từ “Cứu Độ”). Vào năm thứ 10 triều đại Tùy Dương Đế (614 sau C.N), triều đình muốn tìm kiếm 10 Độ Tăng và tổ chức tuyển chọn.

Trở thành một Tăng sư ở tuổi 13
Ảnh minh họa (ảnh: vietbao.vn).

Chí nguyện phi phàm

Lúc đó, Trần Vĩ mới chỉ 13 tuổi, tuổi này chưa đủ để trở thành Độ Tăng; do vậy ông không được phép đi vào khu vực khảo trường. Ông đã rất thất vọng; ông đi xung quanh khảo trường mà chẳng muốn rời đi. Chủ khảo là vị đại quan tên Trịnh Thiện Quả, là một tín đồ phật giáo. Khi thấy Trần Vĩ, ông gọi vào nói chuyện. Trịnh Thiện Quả nhận thấy Trần Vĩ là người hiền lành, có nhiều nét cao quý lại am hiểu văn chương mặc dù còn rất ít tuổi.

Trịnh Thiện Quả hỏi ông: “Tại sao anh muốn trở thành tăng sư?” Ông đáp: “Chí nguyện của tôi là trở thành Như Lai trong tương lai để làm rạng danh Phật Pháp”. Trịnh Thiện Quả thấy Trần Vĩ còn trẻ, nhưng thực sự những gì anh thể hiện rất có khẩu khí; điều đó đã khiến cho vị chủ khảo này kinh ngạc và thán phục. Cuối cùng Trịnh Thiện Quả đã phá cách và cho phép Trần Vĩ trở thành tăng sư. Trịnh đã nói với mọi người, rằng “Phong trúc nan đắc. Nếu người này được phép xuất gia, anh ta sẽ là một Phật môn đại khí!”.

Cuộc đời thực của Đường Tăng trong việc thực hiện nguyện ước đi lấy kinh

Sau khi trở thành tăng sư, Pháp sư Huyền Trang dành hết thời gian để nghiên cứu kinh Phật và đi thăm nhiều các chùa khác nhau. Những gì ông nghe được trong các bài giảng ở các nơi khác nhau, ông nhận thấy đều có sự sai khác. Các trường phái khác nhau, các nhánh khác nhau có những giải thích khác nhau mặc dù trong cùng một chủ đề; thậm chí sự khác biệt đến mức rối loạn.

Điều này khiến cho ông cũng như những người học Phật rất khó có thể tiếp thu và thậm chí có thể làm ảnh hưởng đến Phật Pháp. Cuối cùng ông đã quyết định du hành tới Ấn độ với nguyện ước mang về Trung thổ những bản kinh nguyên gốc. Đó là vào những năm đầu dưới thời vua Đường Thái Tông (627 sau C.N).

Thực hiện nguyện ước đi lấy kinh
Ảnh minh họa (ảnh: newsgram.com).

Lúc đó, nhà Đường vừa mới lập dựng; khu vực biên giới rất hỗn loạn, việc đi ra khỏi quốc gia đều bị nghiêm cấm. Ông đã gửi lên Triều đình hai lần biểu chính thức xin đi tới Ấn độ, nhưng đều bị từ chối. Ông không còn sự lựa chọn nào khác. Ông đã bí mật rời khỏi đất nước.

Cuộc đời thực của Đường Tăng với những khổ nạn trong hành trình thực hiện sứ mệnh

Nạn đói xảy ra, triều đình cho phép người dân rời bỏ nhà cửa để đi tìm việc khắp nơi. Huyền Trang tận dụng cơ hội để rời kinh đô Trường An và du hành về phía Tây. Ông vượt qua thành Tần Châu, Lan Châu và tới thị trấn biên giới Lương Châu. Ông đã gặp một người Mông Cổ tên là Thạch Bàn Đà và người này đã dẫn đường cho ông. Ông chỉ có thể đi vào ban đêm mới có cơ hội vượt qua được Ngọc Môn quan.

Sau khi ra khỏi Ngọc Môn quan, Thạch Bàn Đà không thể tiếp tục chịu đựng được những khó khăn của chuyến du hành xa xôi cách trở đó nữa; anh ta khăng khăng đòi bỏ cuộc. Trước khi bỏ cuộc anh ta chỉ ra một vài thành lũy có lính canh ở biên giới để Huyền Trang cẩn trọng khi đi qua đó.

Những khổ nạn trong hành trình thực hiện sứ  mệnh
Ảnh minh họa (ảnh: twitter.com).

Đúng như những điều Thạch Bàn Đà đã nói, Huyền Trang khi đi qua những nơi đó ông đã bị các lính canh bắt giữ và tra khảo. Sau đó những người lính biết được sự tình của ông là đi Tây Trúc lấy kinh bằng ý chí kiên định hiếm có, nên họ đã thả ông ra. Huyền Trang tiếp tục đi bộ ngày đêm không nghỉ. Nhưng vẫn chưa thể ra khỏi được sa mạc dài 400 km.

Vượt qua quan ải

Ông bắt đầu kiệt sức và có những lúc bị ngất đi trên đường. Cuối cùng thì điều may mắn đã xảy ra; một vùng đất xanh hiện ra giữa sa mạc hoang vắng. Huyền Trang có nước để uống từ một con suối và được cứu sống sau cơn đói khát kéo dài. Thật khó mà dùng từ ngữ để tả nổi những khó khăn mà ông phải chịu đựng.

Trong một đoạn của Tây Du Ký đã mô tả đúng như những cảnh tượng mà ông đã trải qua: “Trên trời không một cánh chim, dưới đất không một muông thú; không có cỏ cây nào có thể sống nổi; không có bất cứ dấu vết nào của sự sống xung quanh. Lúc thì cát và đá bay mù mịt, lúc thì mưa bão mịt mù; không có nước, không có thức ăn, lúc tỉnh lúc mê, lúc thì thấy xương cốt chết khô; lúc thì thấy những cảnh hung ác, hình tượng ma quỷ.”

Người người thán phục và giúp đỡ

Những khó khăn thử thách tưởng chừng như không thể vượt qua. Nhưng cuối cùng ông đã đi qua sa mạc một cách an toàn. Chặng đường tiếp theo mà ông tới là vương quốc Cao Xương. Quốc vương của Cao Xương, ngài Khúc Văn Thái, cũng là một tín đồ phật giáo. Khi nghe tin Huyền Trang đến, ông đã cử sứ giả ra nghênh đón. Gặp được Huyền Trang, để thể hiện sự kính trọng và mến mộ; ông đã tổ chức nghi lễ trịnh trọng kết nghĩa huynh đệ.

Nhà vua muốn Huyền Trang ở lại nước Cao Xương, nhưng Huyền Trang không chịu. Thấy vậy nhà vua tỏ thái độ không vừa lòng và nói: “Nếu ông không ở lại, tôi sẽ gửi trả ông về Trung Thổ.” Huyền Trang đã tuyệt thực để từ chối ở lại Cao Xương. Cuối cùng, ý chí kiên định của ông đã làm nhà vua cảm động và đồng ý để ông ra đi. Nhà vua còn điều hơn 30 lính theo để hộ tống ông; đồng thời cấp cho ông rất nhiều ngựa và những đồ dùng giá trị. Vua còn viết thư gửi tới các vị vua láng giềng, đề nghị giúp đỡ Huyền Trang trên hành trình thực hiện sứ mệnh của ông.

Chính niệm chính hành

Huyền Trang tiếp tục đi về phía Tây dọc theo núi Thiên Sơn. Ông vượt qua cao nguyên Tây Vực, xuyên qua Afghanistan. Đường đi càng ngày càng khó khăn hơn. Ông đã phải đi qua những đỉnh núi tuyết cũng như những sa mạc hoang vu rộng lớn. Có những lúc ông phải dắt ngựa đi dọc theo những con đường nhỏ hẹp trên các đỉnh núi tuyết. Có một nhóm thương nhân đi cùng với Huyền Trang, có nhiều người đã chết vì lạnh, hoặc rơi xuống vực thẳm.

Trong nhật ký, ông viết: “Tôi không dám nhìn xuống, bởi có vô số xác chết ở phía dưới”. Ông đã mất tới 7 ngày 7 đêm leo qua những đỉnh núi để đi vào lãnh thổ Ấn Độ.

Để vượt qua những quan ải đó chỉ có người có đủ chính niệm mới có thể thực hiện được!

Sự gia hộ của Thần Phật

Sau hai năm du hành gian nan cực khổ, Huyền Trang đã đi qua 110 nước trong hành trình tới Ấn Độ. Ông đã du hành tới nhiều thành phố ở phía Tây Bắc Ấn Độ. Ở đó, ông đã nghiên cứu kinh điển Phật giáo tiểu thừa (Hinayana) từ các thầy tu địa phương. Để hiểu rõ hơn giáo lý Phật giáo; ông học triết học Phệ Đà từ các học giả Bà la môn; ông cũng tập trung vào học tiếng Phạn để làm công cụ nghiên cứu các sách cổ phật giáo.

Tiếp theo, ông du hành tới miền trung Ấn. Khi ông chuẩn bị vượt qua sông Hằng, ông đã gặp một toán cướp. Khi chúng nhìn thấy ông tướng mạo đẹp đẽ, phi phàm, chúng đã muốn giết ông để tế thần.

Thần Phật cũng gia hộ
Ảnh minh họa (ảnh: thoivietbao.vn).

Thần tích triển hiện

Ở thời khắc nguy hiểm đó, bỗng nhiên một cơn lốc nổi lên, cùng với sấm chớp; bầu trời trở nên đen kịt với cát bụi mù mịt; đất đá cuốn ào ào trên mặt đất. Những tên cướp bàng hoàng sợ hãi và không hiểu chuyện gì xảy đến. Chúng không dám làm bất cứ điều gì với Huyền Trang nữa; bởi chúng nghĩ đó là biểu hiện sự giận dữ của các vị Thần.

Sau khi chúng biết Huyền Trang là một vị tăng từ Trung Thổ trên đường đi lấy kinh; chúng quỳ lạy trước mặt ông và sám hối, hứa từ nay sẽ cải tà quy chính. Tin tức này được lan đi khắp nơi làm cho tiếng tăm của Huyền Trang càng được nhiều người biết đến.

Sự an bài của Thần Phật

Chùa Na Lạn Đà là một ngôi chùa nổi tiếng ở Trung Ấn; đó là phủ học Phật giáo tối cao trên toàn Ấn độ; có tới ba ngàn tăng nhân tu học trong ngôi chùa này. Trong số họ có nhiều vị cao Tăng và học giả uyên thâm. Huyền Trang đã nhập tự tại đây; khi ông nhập tự, có bốn vị cao tăng đứng ra nghênh tiếp; hơn hai trăm tăng ni và phật tử đứng xếp hàng bên ngoài chào đón ông.

Huyền Trang trở thành đệ tử của sư tăng Giới Hiền. Giới Hiền là trụ trì ngôi chùa này và là lãnh đạo Phật giáo ở Ấn Độ; ông được nhà vua Ấn Độ vô cùng kính trọng. Gần đây ông phải chịu nhiều nghiệp lực trên thân thể; xuất hiện những bệnh gây đau đớn không ít cho ông. Ông đã có ý muốn viên tịch.

Thần Phật điểm hóa

Một đêm, trong một giấc mơ, sư tăng Giới Hiền thấy ba vị Bồ tát xuất hiện. Một vị là Văn Thù Bồ Tát trong sắc vàng; một vị là Quán Thế Âm Bồ Tát trong sắc bạc; và vị thứ ba là Phổ Hiền Bồ Tát trong sắc pha lê. Phổ Hiền Bồ Tát nói với ông: “Con là một vị vua ở mảnh đất này trong tiền kiếp. Vì những kiếp trước con đã sát hại rất nhiều sinh mệnh; do vậy con phải chịu đau đớn trong kiếp này để trả nghiệp. Dù cho có đau đớn đến mấy, con cũng đừng nghĩ đến chuyện viên tịch”.

Sự an bài của Thần Phật
Ảnh minh họa (ảnh: trithucvn.org).

Phổ Hiền Bồ Tát nói tiếp: “Ba năm nữa, sẽ có một vị tăng từ Trung Thổ tới Ấn độ để tìm Pháp. Con hãy truyền dạy cho vị tăng đó những gì con có thể truyền. Để sau này người đó có thể truyền Pháp trên mảnh đất Trung Thổ. Như vậy thì nghiệp chướng sẽ được tiêu trừ và những đau đớn của con sẽ không còn nữa.” Sau giấc mơ, trụ trì Giới Hiền mong mỏi chờ đợi ngày vị tăng đó xuất hiện.

Cuối cùng vị tăng đó đã đến, đó chính là Huyền Trang. Giấc mơ của Giới Hiền đã thành hiện thực. Ông bắt đầu truyền cho Huyền Trang tất cả những gì trong tầm hiểu biết của mình về Phật Pháp; ông cũng sắp xếp cho Huyền Trang đi du hành học hỏi những vị thầy tại các ngôi chùa khác.

Thành quả trong cuộc đời thực của Đường Tăng

Thời gian Huyền Trang ở Ấn Độ đã được 17 năm. Đã đến lúc ông muốn hành hương về Trung Thổ để truyền Pháp tại quê hương của ông. Vào tháng một năm thứ 19 thời vua Trinh Quán (645 sau C.N), ông đã về tới Trung Thổ. Hàng trăm quan lại triều đình và hơn một vạn thường dân đón chào ông bằng nghi lễ nghiêm trang chưa từng có trước đây ở Trường An.

Cuộc đời thực của Đường Tăng và sứ mệnh của ông, ít người biết đến
Ảnh minh họa (ảnh: twitter.com)

Cuộc du hành của Huyền Trang với kết quả to lớn; với tâm từ bi vì chúng sinh của ông, đã khiến cho vua Đường Thái Tông vô cùng trọng thị. Hoàng Đế hội kiến với Pháp Sư Huyền Trang tại Lạc Dương.

Nhà vua đề nghị Pháp sư ghi lại những gì trong cuộc hành trình để người đời sau lấy đó mà học hỏi. Huyền Trang đã viết ra cuốn “Đại đường Tam Tạng Tây Vực ký”. với tổng số 12 quyển; trong đó được ghi lại những sự kiện tại 110 nước mà ông đi qua.

Lưu danh muôn đời

Bắt đầu từ năm thứ 19 đời Trịnh Quán (645 sau C.N). Pháp Sư Huyền Trang đã tập trung sức lực vào việc dịch kinh phật. Trong vòng 19 năm ông đã dịch trên 1000 cuốn kinh điển; đồng thời, ông cũng dịch những cuốn sách của thánh hiền như “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử thành tiếng Phạn để truyền tại Ấn Độ.

Sau khi hoàn thành công việc dịch thuật kinh sách. Một năm sau, ông viên tịch vào tháng hai năm 664 sau C.N tại chùa Ngọc Hoa ở Đồng Xuyên. Di thể của ông được Hoàng Đế phụng chỉ chuyển về Trường An để an táng. Vào ngày an táng, hàng triệu người tập trung đến để thể hiện niềm kính ngưỡng đối với ông. Ba nghìn người đã túc trực ở mộ của ông để tỏ lòng tôn kính ông.

Trong cuộc đời thực của Đường Tăng, ông đúng là người được Thần Phật an bài để duy hộ cho Phật Pháp và cứu độ chúng sinh.

Nguồn: Chánh Kiến

x